Giải đáp thắc mắc: Bệnh cường giáp có di truyền không?

0

Bệnh cường giáp bao gồm nhiều thể bệnh khác nhau, cũng như cách điều trị khác nhau. Nhưng phần lớn chúng đều có 1 điểm chung là có liên quan đến vấn đề di truyền. Vậy bệnh cường giáp có di truyền không?, chúng ta hãy cùng tìm hiểu kỹ hơn qua bài viết ngay hôm nay.

Hãy cùng chúng tôi đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi “Bệnh cường giáp là gì?” và “Bị bệnh cường giáp có di truyền không?” này nhé.

1. Bệnh cường giáp là gì?

Cường giáp là tình trạng tăng quá mức nồng độ hormone giáp do tăng hoạt động tuyến giáp gây ra bởi nhiều bệnh lý khác nhau. Hầu hết trường hợp nhiễm độc tố giáp là cường giáp do bệnh Basedow hay còn gọi là bệnh Grave (60 – 80%) và các bướu giáp nhân hóa độc. Bệnh thường xảy ra ở nữ nhiều hơn nam và hiếm gặp ở thiếu niên. Bệnh thường bắt đầu xuất hiện ở độ tuổi 20 – 50, ít trường hợp xảy ra ở độ tuổi trên 60.

Ngoài ra các bạn muốn hiểu rõ hơn về căn bệnh cường giáp này, các bạn có thể tham khảo thêm tại bệnh cường giáp.

2. Bị bệnh cường giáp có di truyền không?

  • Basedow:

Bệnh Basedow mang nhiều tên gọi khác nhau Bệnh Graves, bệnh Parry, bướu giáp độc lan tỏa, bệnh cường giáp tự miễn. Đây là nguyên nhân thường gặp nhất gây ra cường giáp và cũng là bệnh lý có khả năng di truyền cao nhất. Luôn có sự kết hợp giữa yếu tố môi trường và di truyền dẫn đến bệnh Basedow.

Yếu tố di truyền là yếu tố nguy cơ chính của khả năng mắc bệnh Basedow, với 79% nguyên nhân mắc bệnh là do di truyền. Nghĩa là trong một gia đình có cha hay mẹ bị bất thường về tuyến giáp như bướu giáp, basedow… thì con cái sẽ rất dễ có nguy cơ mắc bệnh Basedow. Ngoài ra bệnh xảy ra với tần suất cao trong gia đình của người bị thiếu máu Biermer, đái tháo đường típ 1, suy thượng thận do tự miễn (bệnh Addison), bệnh nhược cơ, viêm khớp dạng thấp, giảm tiều cầu vô căn, hội chứng Sjogren.

Bệnh cường giáp có di truyền không 1

Cường giáp di chuyền

>> 4 cách chữa trị bệnh Basedow nhanh và hiệu quả

  • Bướu giáp đa nhân hoá độc:

Sau Basedow, bướu giáp độc đa nhân là một trong những nguyên nhân thường gặp trong cường giáp (khoảng 5% trường hợp cường giáp) thường xảy ra ở phụ nữ 60 – 70 tuổi, tiền sử có bướu giáp đa nhân và có tính chất gia đình.

  • Ung thư tuyến giáp:

Có nhiều yếu tố nguy cơ như nữ, tuổi trên 40, thiếu iot trong chế độ ăn. Tuy các nhà khoa học nhận định có yếu tố nguy cơ di truyền nhưng vẫn chưa được khẳng định chắc chắn. Ung thư biểu mô tuyến giáp thể tuỷ có thể gây nên do một biến đổi hoặc tổn hại trong một gen gọi là RET.

Gen RET bị tổn hại có thể được truyền từ bố mẹ cho con. Do đó, những người có yếu tố này vẫn được xếp vào nhóm có nguy cơ mắc bệnh cao.

  • U độc tuyến giáp:

bệnh nhân sẽ có hội chứng cường giáp với biểu hiện tim mạch rõ nếu không điều trị thích hợp. Khi thăm khám sẽ sờ thấy một nhân nằm ở một thùy hoặc eo, tròn, di động, không đập theo mạch. Ngoài ra, người bệnh không có triệu chứng về mất hoặc chỉ co cơ mi, không phù niêm.

Xét nghiệm có hoặc không có tăng fT4 hoặc fT3. Xạ hình tuyến giáp ghi nhận chức năng và ức chế mô giáp bên ngoài nhân. Còn về cơ chế bệnh sinh, vì thụ thể TSH và đột biến gen Gs-alpha rất hiếm xảy ra ở các khu vực có lượng iốt cao, nên thiếu hụt iốt được cho là có vai trò trong sự xuất hiện của những đột biến này; ngoài ra, sự phối hợp của các yếu tố tăng trưởng, cũng như các protein đặc hiệu góp phần thúc đầy quá trình phát triển u độc. Bên cạnh đó, theo các nghiên cứu lâm sàng và di truyền tại Mỹ, yếu tố di truyền chắc chắn có đóng vai trò nào đó trong sự hình thành u độc tuyến giáp (với tỷ lệ được ghi nhận trong nghiên cứu ấy là 37.3%).

  • Nhiễm độc giáp thai kỳ:

có thể xuất hiện trong 4 tháng đầu mang thai – giai đoạn mà nồng độ hCG rất cao, có thể gây hoạt hóa receptor đủ để gây ra nhiễm độc giáp. Phụ nữ nghén nặng cần phải được xét nghiệm chức năng tuyến giáp và đo nồng độ hCG, nhất là những người có tiền sử gia đình mắc bệnh tuyến giáp tự miễn dịch; người có bướu giáp, nhịp tim nhanh, sụt cân, nôn nhiều lúc bắt đầu có thai.

Nhiễm độc giáp thai kỳ nếu không được điều trị tốt sẽ làm tăng nguy cơ biến chứng cho cả mẹ và thai. Nếu được điều trị tốt thì các nguy cơ trên gần tương đương như đối với người không mắc bệnh. Không có yếu tố di truyền trên nhóm bệnh lý này.

Được tổng hợp bởi anbac.info

Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng